Lãnh thổ Việt Nam đã hình thành và mở rộng như thế nào ?

Lãnh thổ Việt Nam đã hình thành và mở rộng như thế nào ?

389 - 22/03/2018

Đã bao giờ bạn tự hỏi, đất nước hình chữ S này với chiều dài từ Bắc chí Nam hơn 1.648km đã được hình thành như thế nào, khi mà kinh đô của ta nằm ở phương Bắc hay chưa? Bạn đã bao giờ tự hỏi rằng những nền văn hóa như Chămpa ở Phan Rang, hay Khơme ở Sóc Trăng đã hình thành như thế nào, và giờ họ ra sao? Hãy cùng tìm hiểu về quá trình mở rộng, sát nhập lãnh thổ của nước ta qua các thời kì phong kiến.

Lãnh thổ Việt Nam hiện nay là sự sát nhập, mở rộng, khai hoan của nhiều tiểu vương quốc khác nhau, bao gồm: Việt Thường, Nam Việt, Phù Nam, Chân Lập, Chămpa, Bồn Man, Tiểu quốc J’rai, Tiểu quốc Mạ, Tiểu quốc Adham mà cốt lõi là nhà nước Văn Lang của người Lạc Việt.

Suốt 1 ngàn năm chịu ách đô hộ Bắc Thuộc, qua các đời như Nam Việt, nhà Hán, nhà Đường, diện tích và lảnh thổ Việt Nam không có nhiều chuyển biến, gần như ổn định tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Chỉ khi nhà nước ta giành lại được độc lập sau chiến thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền, các triều đại như Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý từng bước xây dựng một nhà nước với bộ máy hoàn chỉnh, nước ta mới có tiền đề để mở rộng lãnh thổ.

Thời Lý

Quá trình mở rộng lãnh thổ của nước ta bắt đầu dưới thời nhà Lý, khi nước Đại Lý đem 20 vạn quân vào cướp Châu Bình, nay là tỉnh Tuyên Quang nước ta vào năm 1014. Lý Thái Tổ cho con trai là Dực Thánh Vương cầm quân và hoàn toàn thắng lợi. Sau đó vua Lý Thái Tổ cho sát nhập các vùng mà ngày nay là tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái và đất của người Thái là tỉnh Sơn La vào Đại Cồ Việt.


Năm 1069, Lý Thái Tông thân chinh dẫn quân đi đánh Chiêm Thành, bắt sống được vua Chiêm là Chế Củ. Vua Chiêm tự nguyện dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Lin mà nay là Quảng Bình và Quảng Trị để được tự do.

Thời Trần

Năm 1306, để cưới công chúa Huyền Trân, vua Chiêm là Chế mân dâng 2 châu O, châu Lý là sính lễ cho vua Trần Anh Tông, nay là nam Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên- Huế.

Năm 1402, nước ta đem đại quân đi chinh phạt Chiêm Thành, vua Chiêm là Ba Đích Lại hoảng sợ bèn đem dâng các vùng Chiêm Động, Cổ Lũy để cầu hòa, nay là các huyện của 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Thời Lê

Năm 1471, nước ta tiếp tục chinh phạt Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tông thân chinh cầm binh, hạ thành Chà Bàn, bắt sống vua Chiêm là Trà Toàn. Các cùng đất của Chiêm Thành được vua đặt làm thừa tuyên, sau này là 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định.

Năm 1478, tiếp tục thu phục Bồn Man của người Thái và sáp nhâpj vùng Sơn La, Nghệ An và Tây Thanh Hóa.

Vua, chúa nhà Nguyễn

Chúa Nguyễn Hoàng là người đã đặt ra nền mống Nam tiến, khai khẩn đất đai, tính chiếm và sát nhập các vùng đất trù phú đầy sản vật ở miền Nam nước ta. Nhưng đây cũng là thời kì đất nước bị chia cắt, khi Đàng Ngoài là vua Lê- chúa Trịnh, còn Đàng Trong là chúa Nguyễn liên tục xung đột, khiến cho dân chúng lầm than.


Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng cho quân đi dẹp loạn ở biên ải Chiêm Thành, sau đó đặt ra phủ Phú yên ở đây.

năm 1653, Chiêm Thành tiếp tục xâm phạm biên ải, chúa Nguyễn Phúc Tần sai người đi đánh dẹp. Người Chiêm đầu hàng, ta chiếm cứ vùng đất từ Phú Yên vào Phan Rang, nay là tỉnh Khánh Hòa.

Năm 1692, vua Chăm là Bà Tranh tấn công nước ta, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh đem quân đi đánh đuổi, bắt sống vua Chiêm và hoàng gia.

Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập nên khu tự trị tại các vùng đất của Chiêm Thành, vua Chăm trở thành hạ thần của Chúa Nguyễn.

Năm 1697, Chúa Nguyễn dùng một phần lãnh thổ của Chiêm Thành do Nguyễn Hữu Cảnh chiếm được vào năm 1692 lập thành Bình Thuận phủ.

Năm 1708, Mạc Cửu, một thương gia người Hoa chạy trốn sau khi nhà Minh sụp đổ đã dâng toàn bộ đất đai do ông khai khẩn lập ấp, nay là tỉnh Kiên Giang và Cà Mau cho chúa Nguyễn.

Năm 1732, chúa Nguyễn Phúc Chu cho sáp nhập các vùng mà ngày nay là Vĩnh Long, Bến Tre.

Năm 1739, con của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ tiếp tục dâng các vùng đất mà nay là Cần Thơ, Bạc Liêu, Hậu Giang cho chúa Nguyễn.

Năm 1756, chúa Nguyễn Phúc Khoát đánh bại Chân Lạp, vua Chân Lạp là Nặc Nguyên phải dâng vùng Long An, Tiền Giang để cầu hòa.

Năm 1757, Nặc Nguyên chết, Nặc Nhuận là chú của Nặc Nguyên dâng vùng Trà Vinh, Sóc Trăng lên chúa Nguyễn Phúc Khoát để được phong vua. Sau đó Nặc Nhuận chết, Nặc Tôn lên ngôn, để bảo vệ Chân Lạp trước Xiêm La, ông tiếp tục dâng vùng An Giang, Đồng Tháp cho chúa Nguyễn.

Các vùng Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Sài Gòn, Vũng Tàu, Biên Hoà ngày nay đều là do người Việt vào đất Chân Lạp khẩn hoan và được chúa Nguyễn sáp nhập.

Các chúa Nguyễn còn mở rộng lãnh thở trên biển, khi tuyên bố chủ quyền các quần đảo trên biển Đông và vịnh Thái Lan. quần đảo Hoàng Sa được kiểm soát từ thế kỷ 17, Côn Đảo năm 1704, Phúc Quốc năm 1708 và Trường Sa từ năm 1711.

Thời kì thống nhất


Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn vào năm 1802, chính thức trở thành hoàng đế sau nhiều thế kỷ nội chiến. Ông cho cắm cờ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào năm 1816. Từ năm 1830-1834, vua Minh Mạng cho sáp nhập vùng Tây Nguyên. Năm 1887, sáp nhập các vùng Lai Châu, Điện Biên.

Như vậy, sau hàng thế kỉ chinh phạt, nội chiến, giao tranh, nước Việt Nam hình chữ S đã được hình thành. Từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, 1648km chiều dài cũng chính là chiều dài lịch sử đấu tranh của dân tộc, vì một khối đoàn kết thống nhất.  

 

 

Bình luận

Ảnh đại diện của bạn