Ý nghĩa màu sắc trong Truyện Kiều

Ý nghĩa màu sắc trong Truyện Kiều

110 - 09/04/2018

“Truyện Kiều” là một thi phẩm đặc sắc của Đại thi hào Nguyễn Du, được dựa trên cốt truyện và nhân vật trong sáng tác văn xuôi chữ Hán của một tác gia sống ở Trung Quốc vào thế kỷ XV, đó chính là Thanh Tâm Tài Nhân. Tên của “Truyện Kiều” ban đầu được Nguyễn Du đặt là “Đoạn Trường Tân Thanh”, sau mới lấy tên như hiện tại.

“Truyện Kiều” là cái nhìn mới mẻ của Nguyễn Du, một cái nhìn vượt thời đại. Ông đã thể hiện thông qua “Truyện Kiều” những ước mơ về đôi lứa tự do, hồn nhiên, trong sáng và rất mực thuỷ chung. Bên cạnh đó, “Truyện Kiều” còn là khát vọng hướng đến công lý dân chủ giữa một xã hội bạo ngược đã chà đạp lên nhân cách, dập tắt những ước mơ đẹp đẽ, đồng thời thể hiện vẻ đẹp của con người.

“Truyện Kiều” là cả một sự thành công về bút pháp miêu tả nhân vật của Nguyễn Du, nhân vật trong tác phẩm trở nên sống động và như có hồn.

“Truyện Kiều” đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của người dân Việt, có người thuộc lòng các câu Kiều, người thì đố, người thì lẩy Kiều, từng câu Kiều mang một ý nghĩa đặc biệt thú vị, nên có người đã dùng “Truyện Kiều” để bói toán,…v…v…

Đã có vô số những công trình nghiên cứu về kiệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Không ít người xem việc nghiên cứu “Truyện Kiều” là sự nghiệp cả đời mình, tiêu biểu là:

+ Nguyễn Quảng Tuân, “chữ nghĩa TRUYỆN KIỀU”, NXB Khoa học xã hội, 1991

+ Đỗ Việt Hùng, “Giảng văn Truyện Kiều”, NXB Đại học Sư phạm, 2012

+ Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB Khoa học Xã hội, 1989

+ Phạm Đan QuếNhững điển tích hay trong Truyện Kiều, NXB Giáo dục. 2007

+ Phạm Đan Quế, “Truyện Kiều những bài viết lạ, NXB Giáo dục, 2007

+ Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du qua Truyện Kiều, NXB Thanh Niên, 1998

+…v…v…

  

Tuy nhiên, phương  diện “màu sắc” trong tuyệt tác của Nguyễn Du mãi gần đây mới được một số nhà nghiên cứu quan tâm nhưng số lượng không nhiều.

Vậy nên, để góp một phần vào lịch sử nghiên cứu “Nguyễn Du và Truyện Kiều”, tôi quyết định đi sâu nghiên cứu để hoàn thành nội dung “Ý nghĩa màu sắc” của "Truyện Kiều".


        Nguyễn Du là người học rộng, tài cao, vậy nên cái nhìn của ông chứa đầy quan niệm luân lý, các màu sắc được sử dụng trong “Truyện Kiều” mang một ý nghĩa hết sức đặc sắc.

Mở đầu tuyệt tác, ở câu thơ thứ sáu, câu thơ “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, với ý nghĩa đó là tạo hoá ghen với người “má hồng”, đó là người đàn bà đẹp chính vì bị tạo hoá “ghen” nên thường gặp cảnh ngộ không hay. Có những câu Nguyễn Du không miêu tả màu sắc một cách trực tiếp mà ông thông qua màu của tự nhiên, ví như câu:

“Mai cốt cách, tuyết tinh thần”

Đây là cách mà nhà thơ miêu tả nhân vật của mình hết sức độc đáo, “mai” vàng thể hiện “cốt cách” sang trọng, thanh tao, “tuyết” trắng xoá thể hiện cho một tâm hồn trong sáng thuần khiết.

“Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

Tóc bồng bềnh như những áng mây trôi, màu “tuyết” trắng biểu thị do một làn da “nghiêng nước nghiêng thành”, đẹp tuyệt trần. Đẹp đến nỗi mà “liễu hờn kém xanh”. Để từ đó ta nhận ra được một điều về thân phận của người con người trong xã hội phong kiến, đã khiến tự nhiên phải “hờn” thì sẽ không có số phận may mắn mà thay vào đó sẽ là:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

(Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương)

Kiều là một con gái tài sắc vẹn toàn, “Cầm, kì, thi, hoạ”, trong các bản đàn của nàng, có một bản nàng đặt tên là “bạc mệnh”, “bạc” có thể hiểu theo nghĩa là bạc bẽo, mỏng manh, nhưng cũng có thể hiểu là trắng xoá, bởi màu bạc gần với màu trắng, điều đó thể hiện về tương lai của Kiều, một tương lai màu “bạc”, trắng xoá và đau khổ. Bản nhạc ấy khiến người ta nghe mà não lòng, mà buồn thương cho một kiếp người. Kế đến, Nguyễn Du miêu tả thanh xuân của Kiều thông qua “hồng quần”, “xuân xanh” điều đó cho ta thấy tuổi xuân đẹp đẽ của Kiều nhưng sắp gần 15 tuổi, sắp đến tuổi dựng vợ gả chồng. Thế nhưng “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”, câu này cho chúng ta thấy được màu “thiều quang”, màu của ánh sáng tươi đẹp của mùa xuân. Mùa xuân có ba tháng tức 90 ngày, mà đã ngoài 60, tức là đã bước sang tháng ba. Câu thơ này dường như Đại thi hào muốn hé mở cho người đọc về mùa xuân sắp qua đi cũng như thanh xuân của Kiều sắp đến độ phai tàn. 

Đến câu thơ tiếp:

“Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

“Cỏ non xanh” như tuổi thanh xuân của Kiều, dường như giờ đây sắp phải xa “tận chân trời”. Biện pháp đảo ngữ ở câu dưới, thay vì cành lê điểm trắng một vài bông hoa hay cành lê điểm một vài bông hoa trắng, thế nhưng ở đây tác giả đảo ngữ như để nhấn mạnh về sự bạc “trắng” của cuộc đời nàng. Và đúng như quan niệm phương Đông, ngày xuân mà xuất hiện màu trắng, đó là điềm báo của những điều xui xẻo. Quả đúng như vậy, đến câu thơ thứ 50 đã báo hiệu điều đó:

“Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.”

Đúng vậy, vàng – vó,  đó là một loại vàng giấy, dùng trong việc đưa ma hoặc lễ hội. Cho đến khi gặp Đạm Tiên, hình ảnh người con gái “Sương in mặt, tuyết pha thân”, lại là cả một màu trắng xoá, Kiều thực tại dường như là bản sao của “tiểu Kiều” này. Đó cũng như lời dự báo về số phận trong tương lai của Vương Thuý Kiều, một thân phận sẽ như “Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa?”. 

Đến khi Kiều gặp lại chàng Kim, “Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung”, Từ “đá vàng”: Hán ngữ là kim thạch, “kim” đây là loài đồng, chỉ chuông đồng, vạc đồng, “thạch” là đá, chỉ bia đá. Thời xưa, những việc lớn, những công đức hay châm ngôn, thường được người ta khắc vào chuông đồng, bia đá, để lưu truyền thiên cổ. Do đó, người ta thường dùng danh từ kim thạch để chỉ cái gì có tính cách vĩnh cửu bền vững, không thay đổi được, như ghi tạc vào vàng đá. Dùng màu vàng trong tình huống Kiều nhận lời gắn bó với Kim Trọng, và xin ghi tạc lời đó, như ghi tạc vào đá vàng. 

Đến câu thơ thứ 370:

“Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.”

Có nghĩa là màu đỏ ít đi, màu xanh rậm thêm, tức là mùa xuân sắp qua, mùa hạ sắp tới cũng như chính tuổi trẻ của Kiều sắp tàn úa.

Màu vàng, màu của cây cối tàn úa, màu của “đá vàng” sắt son, đó cũng chính là màu của đồng tiền phong kiến, đồng tiền như một cổ máy vạn năng biến hình vũ trụ, nó có thể biến không thành có, hoá sự sống thành cái chết,… và cũng chính nó đã khiến cuộc đời Thuý Kiều nói riêng, cuộc đời của cả gia đình Kiều nói chung phải chịu nhiều oan trái.

Qua đây, ta thấy Nguyễn Du chỉ với những gam màu đơn thuần đã hé mở cho người đọc một số phận sắp phải “ba chìm bảy nổi với nước non”, hay nói cách khác đó cũng chính là nền tảng để chuyển sang phần hai về 15 năm lưu lạc của Vương Thuý Kiều. Để chính nàng cũng tự than vãn về cuộc đời mình “Phận sao phận bạc như vôi,”

“Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu.”

Câu thơ thứ 776 này khiến người đọc sẽ thấy được tinh thần “đá vàng” của Kiều thông qua chi tiết “xương trắng”, trắng xoá cuộc đời, đồng thời nàng tuyên thệ với lòng về việc giữ tiết, vẹn tình với Kim Trọng. Trong quan niệm Phật giáo, cụ thể trong kinh “Vu Lan báo hiếu”, Phật dạy rằng:

“…Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn. 

Ngươi có biết cớ sao đen nhẹ? 

Bởi đàn bà sinh đẻ mà ra, 

Sanh con ba đấu huyết ra, 

Tám hộc bốn đấu sữa hòa nuôi con. 

Vì cớ ấy hao mòn thân thể, 

Xương đàn bà, đen nhẹ hơn trai…”

Thế nhưng trớ trêu thay phận hồng nhan, mắc lừa Mã Giám Sinh, tên buồn người ấy đã cuộc đời Kiều vào chốn lầu xanh, cứ thế như một vòng luẩn quẩn đời nàng đã phải “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, Nguyễn Du đã dùng những gam màu và từ đó ta thấy được sự nhơ nhớp của chốn lầu xanh, là nơi đã khiến Kiều chịu nhiều đau khổ.

“Nước vỏ lựu máu mào gà,” Nguyễn Du dùng hình ảnh này để cho ta thấy rõ được sự kinh tởm, dơ bẩn của chốn lầu xanh đương thời. Bởi theo sách Bắc lý chi: Gái thanh lâu tiếp khách xong, lại lấy nước vở lựu máu mào gà sống để rửa, giả làm gái còn tân để đánh lừa khách chơi.

Khi gặp Sở Khanh, một gã có “hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng” và cũng khá “văn vẻ”, cô như người đang sắp chết đuối vớ được cọc mà không còn bình tĩnh nhận ra lời lường gạt sáo rỗng của Sở Khanh.

“Than ôi! Sắc nước hương trời,

Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?...”

Kiều vội vàng tin Sở Khanh và cùng Sở Khanh trốn thoát khỏi lầu Ngưng Bích. Cô nào ngờ mình đã rơi vào lưới do Tú bà giăng sẵn để giữ cô lại vĩnh viễn ở lầu xanh. Chưa kịp cao chạy xa bay thì Tú bà đến và lúc này nàng mới rõ bản chất con người Sở Khanh, hắn “tô” lên thêm trên cuộc đời nàng một màu “bạc” hết sức kinh tởm:

“Bạc tình, nổi tiếng lầu xanh,

Một tay chôn biết mấy cành phù dung!...”

Bị Tú bà đánh, nàng đành phải chịu quy phục, mặc cho thể xác “đến phong trần, cũng phong trần như ai” và cảm thấy xót xa cho chính bản thân mình:

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,

Giật mình, mình lại thương mình xót xa…”

Khi Thúc Sinh chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh cũng là lúc kiều phải khoác lên mình một màu nữa, một gam màu đặc biệt được Nguyễn Du phác hoạ lên, đó chính là “màu quan san”, màu của bụi đường, màu của sự chia cách, được dùng để chỉ sự chia tay, nghìn non xa xôi cách trở. Gặp Hoạn Thư -  Vợ của Thúc Sinh thì Kiều lại gặp biến, nàng phải đi tu và khoác lên mình “màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng”. Sau đó, Kiều trốn khỏi Quan Âm các và đã gặp ni cô Giác Duyên. Bà đã cho Kiều sang ở tạm nhà Bạc bà, một Phật tử thường hay lui tới chùa. Ai ngờ "Bạc bà cùng với Tú bà đồng môn", Bạc bà đã khuyên Kiều lấy cháu mình là Bạc Hạnh. Qua tay Bạc Hạnh, một lần nữa cuộc đời Kiều lại “bạc”, lại bị bán vào lầu xanh.

Sau cùng Kiều đã gặp được Từ Hải và báo ân báo oán. Mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải đã bị hành thích và “chết đứng giữa đàng”. Hồ Tôn Hiến đang đà thắng đã ép Kiều phải “thị yến dưới màn”, nàng đã khóc thương và xin được mang Từ Hải đi chôn cất. Hồ Tôn Hiến đã chấp nhận cho “cảo táng di hình bên sông”. Biết nàng giỏi đàn, Hồ Tôn Hiến bắt nàng phải chơi, Kiều đã thể hiện nỗi lòng mình qua tiếng đàn:

“Một cung gió thảm mưa sầu,

Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay!

Ve ngâm vượn hót nào tày,

Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu…”

Sáng hôm sau, để tránh lời đàm tiếu về mình, Hồ Tôn Hiến đã gán ngay Kiều cho người thổ quan. Trên con thuyền, Kiều nhớ tới lời của Đạm Tiên xưa đã nói với mình trong mộng “Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau”, nàng đã quyết định nhảy xuống sông tự vẫn.

Về phần Kim Trọng, sau khi hộ tang chú xong, quay trở lại thì biết tin gia đình Kiều gặp nạn, Kiều đã bán mình chuộc cha. Kim Trọng đau xót và đi dò la tin tức và tìm nàng:

“Vật mình vẫy gió tuôn mưa,

Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai.

Đau đòi đoạn ngất đòi thôi,

Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.”

Mọi người trong nhà khuyên can hết lẽ, chàng nghe theo lời dặn của Kiều và đón cha mẹ Kiều cùng Thuý Vân sang nhà chăm lo phụng dưỡng, đồng thời vẫn đưa tin tìm kiếm nàng khắp nơi. Tuy “sâu duyên mới” nhưng chàng lại “càng giàu tình xưa”. Vương Quan và Kim Trọng sau đó đều đỗ đạt và làm quan. Sau nhiều ngày tháng tìm kiếm thì hai người mới dò la được thông tin của Thuý Kiều là đã trầm mình dưới sông Tiền Đường. Ra đến sông, mọi người gặp sư Giác Duyên ở đó, được biết là Thuý Kiều đã được bà cứu mạng về cưu mang. Sau đó, mọi người được dẫn về gặp lại nàng Kiều, “mừng mừng tủi tủi”.

Sau mười lăm năm lưu lạc, Thuý Kiều đã trở về đoàn viên với gia đình. Nhưng nàng chính là người sợ việc đoàn viên hơn ai cả. Trong việc tái ngộ này, Thuý Vân chính là người đầu tiên đã lên tiếng vun vào cho chị. Nhưng trong đêm gặp lại ấy, Thuý Kiều đã tâm sự với Kim Trọng:

“Thân tàn gạn đục khơi trong

Là nhờ quân tử khác lòng người ta…”

Nàng ghi nhận tấm lòng của Kim Trọng nhưng tự thấy mình không còn xứng đáng với chàng nữa. Tuy từ chối việc kết hôn với Kim Trọng, song Kiều nguyện rằng hai người sẽ trở thành bạn tri kỷ nơi câu thơ tiếng đàn, "chẳng trong chăn gối, cũng ngoài cầm thơ".

Thời gian qua đi, biết bao thế hệ qua đi, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du vẫn ở trong triệu triệu trái tim của con người Việt Nam và nhân loại. Sức hấp dẫn của “Truyện Kiều”  không phải ở “tài tử giai nhân” mà ở tấm lòng yêu thương con người của nhà thơ đã kết tinh trong từng chi tiết của truyện, tiêu biểu đó là nhà thơ đã làm nên những gam màu đặc sắc, mang tính triết lý, đầy hàm ẩn khiến người đọc có thể nhìn sang một thế giới khác, đó là một thế giới song song với thế giới của Vương Thuý Kiều, là thế giới mà Đại thi hào đang phản ánh. Đọc thơ Nguyễn Du ta bâng khuâng trước những giọt lệ cao cả, chảy mãi ngàn đời giống như Chế Lan Viên đã đúc kết: “Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều”. Tuyệt tác “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du thành công cả về nội dung lẫn nghệ thuật, đặc sắc ở chỗ không câu thơ nào giống câu thơ nào, mỗi câu thơ là một ẩn ý. Để thể hiện điều đó, những gam màu trong bút pháp của ông đã góp phần cho chúng ta biết được điều này. Đó ví như là màu bạc trắng như vôi tình đời, màu đỏ đen cho cuộc tình hồng,…hay đó cũng là màu vàng cho số phận, màu vàng đại diện cho uy lực đồng tiền trong xã hội phong kiến thối nát, tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người…v…v… Mỗi lần đọc tác phẩm của ông là một lần cảm nhận, thấm thía những giá trị hết sức sâu sắc, tinh thần nhân đạo cao cả.

Chỉ với hai gam màu chính, đó là màu trắng và màu vàng, “Truyện Kiều” đã lên án tố cáo xã hội phong kiến đương thời, cảm thông trước số phận của những người “má hồng”. Bên cạnh đó vẫn còn những gam màu khác, với những sắc thái nghĩa khác đã hỗ trợ góp phần làm bật lên hai gam màu chủ đạo này.

Qua những gam màu, qua hình tượng nhân vật, tình huống, tác giả như lên án xã hội phong kiến, thế lực đồng tiền thối nát đã đè lên thiên lương thơm thảo của con người. Đó cũng là tiếng nói thay cho những người phụ nữ trong xã hội phong kiến phải chịu cảnh “ba chìm bảy nổi” lênh đênh, gió dập sóng dồi để rồi cuộc đời không còn nơi nương tựa mà phải “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”. Thế nhưng dù có thế nào thì người phụ nữ ấy vẫn “giữ tấm lòng son” như trong bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương. Nguyễn Du đã gửi gắm toàn bộ thế giới quan của mình về xã hội phong kiến lúc đó qua các câu thơ:

“Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân.

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.”

                    ~~~Nguyễn Ngọc Quang~~~


Bình luận

Ảnh đại diện của bạn