PHÂN TÍCH NHÂN VẬT A PHỦ

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT A PHỦ

1,442 10/01/2019

Đề 4: Phân tích nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

I.            Mở bài:

Ø  Giới thiệu tác giả

-      Tô Hoài là một nhà văn lớn thành công trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp.

-      Ông có vốn kiến thức sâu rộng về phong tục tạp quán của nhiều vùng đất xa xôi trên đất nước ta, đặc biệt là dân tộc ít người ở vùng đất Tây Bắc.

-      Tô Hoài đã từng nói: “Đất và người Tây Bắc đã để nhớ trong tôi nhiều quá”. Từ đó truyện “Tây Bắc” ra đời.

Ø Giới thiệu tác phẩm

-      Xuất xứ: “Vợ Chồng A Phủ” được trích trong tập truyện “Tây Bắc” và là truyện ngắn thành công nhất của Tô Hoài cũng như của VHVN thời kháng chiến chống Pháp

-      Hoàn cảnh sáng tác: Truyện được sáng tác năm 1952 khi nhà văn cùng bộ đội vào giải phỏng Tây Bắc.

-      Ví trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần đầu của tác phẩm. Kể về số phận của những người bị áp bức, bốc lột bởi giai cấp thống trị miền núi. Tiêu biểu là nhân vật Mị và A Phủ.

Ø Giới thiệu luận đề: Diễn biến tâm trạng Mị trong đêm đông cứu A Phủ.

Ø Chuyển ý: Sau đây chúng ta cùng phân tích

II.          Thân bài

1.    Hoàn cảnh và số phận của A Phủ:

-      A Phủ mồ côi cha mẹ, sống một mình, không người thân thích. Có “người làng đói bụng đã bán A Phủ cho người Thái ở dưới núi”. A Phủ không chịu nổi “bỏ trốn lên núi cao, lưu lạc đến Hồng Ngài” sống bằng nghề làm mướn. Là người lao động giỏi, nhưng A Phủ chỉ biết sống bằng bán rẻ sức lao động của mình.

-      A Phủ thông minh, khỏe mạnh, tài giỏi nhưng vì “không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc A Phủ không thể lấy nổi vợ”à A Phủ khổ vì phép làng và tục lệ cưới xin ngặt nghèo. Đó là nỗi khổ điển hình của người dân miền núi

-      Vì đánh con quan, A Phủ bị bắt, bị đánh đập tàn bạo. Từ đó, A Phủ sống cuộc đời của người làm công trừ nợ, bị bốc lột sức lao động: A Phủ bị phạt vạ, bị cột chặt vào kiếp người nô lệ: “Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ mới thôi”. Từ đấy, A Phủ là người ở không công truyền kiếp, đốt rừng, cày nương, cuốc mương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng”

-      Vì để hổ ăn mất bò, A Phủ bị trói đứng vào cột, bị đánh đập, hành hạ tàn nhẫn

àTố cáo bọn thống trị tàn ác , nham hiểm và thể hiện nổi xót thương đối với con người nghèo khổ bất hạnh như A Phủ

2.    Tính cách của A Phủ

·      A Phủ là một người gan lì, dũng cảm, không bao giờ chùn bước trước bạo lực cường quyền

-      Mới 10 tuổi, A Phủ đã biết trốn lên vùng cao, từ bé đã sống tự lập, “không thích ở vùng thấp”

-      A Phủ là con của núi rừng tự do. Cuộc sống phóng khoáng, ngang tàn, không sợ kẻ quyền thế, kẻ ác. Dù biết A Sử là con quan (vì hắn đeo vòng cổ chỉ có con quan mới được đeo) nhưng A Phủ vẫn ra tay trừng trị: “Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử, xốc tới nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo đánh tới tấp”

-      Khi bị thống lí tra tấn đánh đập dã man, A Phủ chỉ quỳ chịu đòn, chỉ im lặng như tượng đá. à Điều này cho thấy A Phủ không hề khuất phục cũng chẳng hề van xin tha mạng.

-      Khi bị thống lí trói vào cột vì để mất bò, sức lực đã cạn kiệt, dù đã cận kề với cái chết, A  Phủ chỉ lặng lẽ chỉ dòng nước mắt “Hai dòng nước mắt bò xuống hai hõm má đã xám đen lại của A Phủ”

à Tuy A Phủ đã rơi vào hoàn cảnh khốn đốn, anh dường như đang đứng giữa ranh giới giữa sự sống và cái chết nhưng bản chất dũng cảm, gan góc của anh vẫn luôn tồn tại trong bất kì hoàn cảnh nào.

·      A Phủ giỏi giang, chăm lao động, có trách nhiệm về công việc của mình

-      Khi trở thành người làm công gạt nợ, A Phủ vẫn là con người của tự do, yêu lao động, vẫn nhiệt tình trong công việc “quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng” làm bao nhiêu việc nhưng A Phủ vẫn làm phăng phăng, không hề than thở kêu ca hay trốn việc

-      Khi anh phát hiện hổ đã ăn mất bò, A Phủ vẫn không hề lo sợ, trả lời tự nhiên “Tôi về lấy súng, thế nào cũng bắt được, con hổ này to lắm”à Điều này cho thấy anh là một con người cương trực, thẳng thắng, dám làm dám chịu.

·      A phủ là còn là một người lạc quan, yêu đời: Dù nghèo, dù biết mình “không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc”nhưng A Phủ không hề tự ti, mặc cảm, anh vẫn đi chơi, vẫn đi tìm người yêu trong đêm tình mùa xuâ n.

·      A Phủ có sức sống mãnh liệt, anh có khát vọng sống, khát vọng tự do mạnh mẽ lớn lao.

-      Khi anh bị trói đứng, khi biết chắc A Sử không thể bắt được hổ và mình sẽ phải bị trói đến chết, A Phủ liền cắt đứt mấy vòng dây trói, định chạy trốn

à A Phủ không hề cam chịu, anh luôn tìm đường sống cho bản thân mình.

-      Khi được Mị cởi trói, “A Phủ bỗng khuỵu xuống…” nhưng trước cái chết có thể đến ngay, A Phủ “quật sức, vùng lên chạy”à Niềm khao khát được sống đã giúp cho A Phủ chiến thắng nỗi đau thể xác, vùng lên chạy thoát khỏi nhà thống lí để tìm sự sống.

à A Phủ có tinh thần phản kháng và sức sống tiềm ẩn, mãnh liệt. A Phủ là đứa con của núi rừng tự do, hồn nhiên, chất phác. Cuộc sống khổ cực đã hun đúc cho anh một bản lĩnh gan dạ, mạnh mẽ.

3.    Đánh giá

a.    Nội dung:

-      Nếu Mị là kiểu nhân vật tâm lí thì A Phủ lại là nhân vật hành động táo bạo, quyết liệt. Khi miêu tả A Phủ, nhà văn phối hợp vừa tả vừa kể, nhấn mạnh các chi tiết cụ thể, ấn tượng để khắc họa những đặc điểm, tính cách nhân vật.

-      Cùng với Mị, A Phủ đã góp phần hoàn thiện chân dung con người miền núi Tây Bắc: Số phận đâu thương nhưng giàu sức sống, tình cảm và khát vọng. Người đọc cũng mong có một kết thúc tốt đẹp đến với A Phủ và Mị. Bởi họ là những con người không chịu khuất phục trước cường quyền gian ác.

-      Nếu chị Dậu trong “Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố chạy ra khỏi nhà lí thống trong đêm tối, cái đêm đen cũng đen như cuộc đời của chị, người ta mong chị sẽ gặp được ánh sáng soi rọi của cách mạng, thì ở đây, người đọc cũng mong A Phủ và Mị chạy thoát khỏi nhà lí thống, gặp được ánh sáng của Cách mạng ở cuối đường.

b.   Nghệ thuật

- Nghệ thuật kể chuyện: lối trần thuật hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, giọng văn trầm lắng. Lối trần thuật ăn nhập vs nội dung , tư tưởng tác phẩm.
-Nghệ thuật miêu tả tâm lí và tính cách nhân vật :
+ Nhà văn ít miêu tả hành động mà chủ yếu là khắc họa tâm tư, thế giới đời sống nội tâm nhân vật.
+ Giong kể có lúc hòa nhập vào dòng tâm tư của nhân vật, vẻ lên đủ loại cung bậc tình cảm của nhân vật.
- Nghệ thuật tả cảnh : cảnh thiên nhiên thơ mộng được miêu tả bằng ngôn ngữ giàu chất thơ, giàu tính tạo hình. Cảnh miền núi TB hiện lên bởi cảnh sinh hoạt, phong tục tập quán.

III. Kết bài

-      “Vợ chồng A Phủ” là một tuyệt tác nghệ thuật, là một trong nhưng tác phẩm hay nhất, tiêu biểu nhất của Tô Hoài. Tác phẩm là một bức tranh hiện thực sâu sắc về cuộc sống gian khổ của người dân miền núi, ở vùng cao. Họ luôn phải chịu sự bất công, sự áp bức bốc lột của giai cấp thống trị.

-      Phải là một người am hiểu, một người có kiến thức sâu rộng về phong tục tạp quán của những dân tộc it người của đất nước Việt Nam, Tô Hoài mới có thể miêu tả cụ thể chi tiết và hay đến thế.

-      Mỗi tác của Tô Hoài sẽ trở thành những bông hoa tỏa sắc trong khu vườn văn học Việt Nam

-      Đánh giá, cảm nhận của bản thân.

 

Lần 1: Khi Mị định ăn lá ngói tự tử:

a.    Mị vô cùng buồn tủi, uất ức: “Mấy tháng ròng, đêm nào Mị cũng khóc”, khóc vì tủi nhục, cay đắng xót xa. à Mị nhận thức rõ cuộc sống, nhân phẩm của mình đang bị chà đạp một cách dã man, không thương tiếc.

b.   Mị về nhà lạy cha và có ý định muốn tìm đến cái chết: Hành động này không chỉ thể hiện lòng hiếu thảo mà còn cho thấy sự phản kháng mãnh liệt của cô, quyết không chấp nhận kiếp sống tủi nhục.

c.    Kết quả: Khát vọng sóng tự do, sống đúng nghĩa đã không chiến thắng được lòng hiếu thảo của Mị nên cô đành sống, chấp nhận số phận. Vì Mị hiểu rằng nếu “Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn…”

à Dẫu giải pháp này của Mị có phần tiêu cực nhưng nó đã khẳng định được: Mị ý thức rất rõ tình cảnh của mình Mị không chấp nhận mình sống như một con vật mà cô mún được chết như một con người.


BÌNH LUẬN

Ảnh đại diện của bạn