HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VỢ NHẶT

HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VỢ NHẶT

772 10/01/2019

1.      Hình tượng nhân vật người vợ nhặt.

a.     Hoàn cảnh, xuất thân: Cuộc đời bất hạnh của nhân vật này gói gọn trong con số 0 tròn trĩnh: không quê hương, không xuất thân, không gia đình, không nhà cửa, không nghề nghiệp, không tuổi, thậm chí là khổng có cả một cái tên (xuyên suốt tác phẩm, nhân vật được tác giả gọi là “cô ả”, “thị”, “người vợ mới”…một cách chung chung.)

à Ý nghĩa: HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT CHÀNG

+ Tác giả nhấn mạnh, hoàn cảnh bất hạnh, số phận rẻ mạc của con người trong xã hội bấy giờ. Họ nghèo khổ, họ mất cả giá trị, sống nay chết mai nên không cần có một cái tên.

+ Đây không phải là hoàn cảnh cụ thể mà là số phận chung của những người dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp ấy.

b.   Ngoại hình: Thể hiện qua 2 lần gặp Tràng:

-         Lần 1: Thị ngồi với những cô gái không có việc làm để chờ có người đến thuê. Thị vẫn còn lanh lợi, nhanh nhẹn, xông xáo chọc ghẹo anh Tràng và đẩy xe bò phụ anh.

-         Lần 2: Cái đói đã làm cho thị hiện lên như một con ma đói: “áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”

à Cái đói đã khiến vẻ ngoài của thị trở nên nhếch nhác, xấu xí, gầy gò đến thảm hại. Nhưng tính cách của thị còn thay đổi hơn.

à Số phận, mảnh đời của thị không hiếm hoi trong bối cảnh nạn đói năm 1945

 

c.   Tính cách

v  Trước khi theo anh tràng:

Ø  Lần đầu gặp anh Tràng:

-         Hành động:

+ “Cợt đùa, đáp trả lại câu hò của anh Tràng”

+ “Thị vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng”

à Bạo dạn, dạn dĩ.

-         Lời nói: Gọi Tràng là “nhà tôi ơi”

à Đây là cách nói của vợ nói với chồng. à Sổ sàng, lẳng lơ, dễ dãi.          

-         Vẻ mặt: “Cong cớn, liếc mắt, cười tít”. à Thiếu ý thức, vô duyên

Ø  Lần hai khi gặp anh Tràng:

-         Lời nói: “Thị ở đâu sầm sập chạy đến”, “sưng sỉa nói”,trách móc Tràng là “điêu”

à Thị bám vào câu nói đùa của Tràng chỉ để được ăn.

-         Vẻ mặt: “sưng sĩa”, “chao chát, chỏng lỏn” à Thèm ăn, đói khát.

-         Hành động:

+ Thị gợi ý để được ăn “Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu”

+ Khi nghe anh Tràng mời ăn: “Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên” rồi”thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc chẳng chuyện trò gì”

+ Khi ăn xong, “thị cầm dọc đôi đũa quệt, ngang miệng, thở”

à Thiếu ý thức, thậm chí thiếu giáo dục, không có lòng tự trọng, không nữ tính.

à Cái đói không chỉ tàn phá dung nhan mà còn làm thay đổi tính cách, nhân phẩm của con người. Người phụ nữ này đã đặt sự tồn tại của mình, miếng ăn lên lòng tự trọng của bản thân. Sự trơ trẽn của cô được sinh ra từ cái đói, cái nghèo chứ không phải là bản chất thật sự của thị. Vì đói, người phụ nữ này đã bám víu vào những lời nói đùa vu vơ, hi vọng mong manh. Vì đói cô đã chấp nhận theo không một người đàn ông xa lạ, trở thành vợ nhặt chỉ để trốn chạy cái đói.à Đây là giá trị hiện thực sâu sắc.

v Sau khi theo anh Tràng

Ø  Trên đường về nhà:

-         Đằng sau sự lẳng lơ, trơ trẻn, là lòng ham sống mãnh liệt. Chính vì vậy, chị đã đồng ý và chấp nhận theo Tràng không do dự. à Khát vọng sống ấy thật đáng quý, hợp lẽ tự nhiên.

-         Phía sau sự trơ trẻn, thiếu ý tứ, không nữ tính là sự ngượng nghịu, e thẹn rất dễ thương của người vợ nhặt: “Thị cắp con thúng con, đầu hơi cúi xuống. cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn”, “chân nọ bước dúi vào chân kia”. Đặc biệt, chị rất ý tứ khi đi theo sau anh tràng ba bốn bước.

Ø Khi về đến nhà: Không còn là người phụ nữ “chao chát”, “chỏng rỏn” vô ý vô tứ, thiếu giáo dục mà trái lại, người vợ nhặt tỏ ra rất hiểu chuyện, biết cách ứng xử, rất tinh tế trong giao tiếp, được giáo dục một cách kĩ càng:

-         Khi vừa về đến nhà Tràng, thấy “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, “thị nén một tiếng thở dài”

à Thị chấp nhận hoàn cảnh sống, không đòi hỏi

à Thị muốn giữ thể diện cho anh Tràng.

-         Bước vào nhà Tràng, thị “ngồi móm ở mép giường” à Vì thị hiểu rõ: không được tùy tiện ngồi ngả ngớn trên giường của người đàn ông xa lạ khi mình chưa chính thức là vợ của anh Tràng.

-         Trước mặt bà cụ Tứ: “Thị cúi mặt” xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt”, thị “khép nép”

à Đây là thái độ đúng mực, dịu dàng của một người con dâu mới.

Ø Sáng hôm sau: Sự thay đổi của Thị càng rõ rệt:

-         Thị dậy sớm, dọn dẹp nhà cửa, quét sân “rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn” như trước à Sự đảm đang tháo vác.

-         Khi đón bát “chè khoán” từ tay bà cụ Tứ “hai con mắt thị tối lại” chứng tỏ thị nhận ra đây không phải là chè mà chỉ là “cháo cám” nhưng thị vẫn “điềm nhiên và vào miệng”

à Rất ý tứ, tế nhị. Thị chấp nhận hoàn cảnh. Đây là một người phụ nữ tinh tế, sâu sắc.

-         Người vợ nhặt còn tỏ ra hết sức hiểu biết, nhạy cảm với thời thế, xã hội. Chị đã thổi luồng sinh khí mới, chị nhen nhóm niềm hi vọng, niềm tin cho gia đình Tràng qua việc cung cấp thông tin: “Việt Minh phá kho thóc của Nhật, chia cho người đói” và “trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa”

ð Tuy thị chỉ là nhân vật phụ nhưng không thể thiếu trong tác phẩm, thiếu thị Tràng chỉ là một anh chàng vô tư, bà cụ Tứ vẫn lặng thầm trong đau khổ cùng cực, chính Thị đã làm thay đổi tất cả. Tình người, sự yêu thương, nhân hậu của gia đình anh Tràng đã giúp cho chị được sống, được lại bản chất tốt đẹp của mình, thì ngược lại thị đem đến cho anh Tràng niềm hi vọng, tương lai đầy ánh sáng, lạc quan. Đây là giá trị nhân đạo sâu sắc, giá trị của tình người.


BÌNH LUẬN

Ảnh đại diện của bạn