HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT BÀ CỤ TỨ

HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT BÀ CỤ TỨ

787 10/01/2019

1.      Hình tượng nhân vật bà cụ Tứ:

a.      Hoàn cảnh nhân vật:

-         Bà cụ Tứ là một bà mẹ nghèo khổ, từng trải, có cuộc đời đầy gian truân và bất hạnh: chồng chết, con gái lấy chồng xa, bà sống với người con trai xấu xí, ế vợ, trong một cái nhà rách nát, xiêu vẹo. Bà già rồi, dáng người “lọng khọng”, “húng hắn ho”, gần đất xa trời.

à Nhân vật bà cụ Tứ xuất hiện trong bóng chiều chạng vạng, tê tái. Đôi mặt người mẹ này lúc nào cũng rỉ ra những dòng nước mắt. Bà là hiện thân của tất cả những bà mẹ Việt Nam nghèo khổ lúc bấy giờ hết mực thương con.

b.   Diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ:

v Khi bà về đến nhà

-         Bà ngạc nhiên, trong tâm trạng “phấp phỏm”, “đứng sững lại”, “hấp háy con mắt cho đỡ nhoèn”. Bà ngạc nhiên vì:

+ Vì cách anh Tràng đón bà một cách đon đả, mừng rỡ.

+ Vì có người đàn bà xa lạ ở trong nhà của mình.

à Cái đói, cái nghèo đã khiến cho một bà mẹ từng trải hiểu đời mất đi sự nhảy cảm vốn có của người phụ nữ.

-         Khi hiểu ra, hàng loạt những tâm trạng, cảm xúc chuyển biến trong lòng bà cụ Tứ:

+ “Bà lão cúi đầu nín lặng”. Bà tủi hổ cho bản thân mình vì mình chưa làm tròn trách nhiệm của người mẹ, bà lo nỗi hạnh phúc cho con. à Bà tự trách mình và mặc cảm vì thân phận của mình cho thấy bà rất thương anh Tràng.

+ Bà “xót thương cho số kiếp của con mình” vì đến hoàn cảnh này thì anh Tràng mới lấy được vợ.

+ Bà thấu hiểu, thương cảm cho con dâu, “người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy con mình”.

-         Bà lo lắng cho tương lai của các con: “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khác này không”.

à Bà cụ Tứ là người rất hiểu chuyện, có nhiều kinh nghiệm sống. Bà hiểu tình cảnh khốn khó của người vợ nhặt và bà không hề có ý xem thường người đàn bà ấy mà ở bà chỉ có sự đồng cảm, sự bao dung.

-         Từ tâm trạng buồn tủi, thương xót, bà cụ Tứ cảm thấy mừng cho con: “Ừ, thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau, ú cũng mừng lòng”:

+ Điều này thể hiện sự chấp nhận, đồng ý, chúc phúc của người mẹ trước cuộc hôn nhân của con trai mình.

+ Khiến cho anh Tràng cảm thấy nhẹ nhõm, yên lòng, xua đi sự lo âu, phấp phỏm trong anh.

+ Khiến cho người phụ nữ xóa đi sự bẽ bàng tủi hổ vì danh phận vợ nhặt, trả lại cho người phụ nữ ấy lòng tự trọng, danh dự và nhân phẩm.

à Bà là người tâm lý. Ở bà không chỉ có sự thương người mà là người có lòng nhân hậu với tất cả mọi người.

-         Bà luôn băn khoăn, dậy dứt, khổ tâm vì không thể “làm dăm ba mâm” đãi mọi người.

-         Bà ra sức khuyên các con những điều đôn hậu, chí tình để động viên các con:

+ Bà căn dặn, bảo ban con phải sống sao cho “hòa thuận”

+ Bà đem đến niềm hi vọng, sự lạc quan cho con bằng triết lý: “Ai giàu ba họ”, “ai khó ba đời”.

v Sáng hôm sau:

-         Tâm trạng của bà cụ Tứ thay đổi rõ rệt:

+ Bà dậy thật sớm cùng con dâu thu dọn nhà cửa như đón chào một cuộc sống mới, một khởi đầu mới, “hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”.

+ Dáng vẻ, nét mặt, tâm trạng của bà cũng tươi tỉnh “nhẹ nhõm”, “khác ngày thường”.

à Tâm trạng vui, hạnh phúc với niềm vui của con mình.

-         Trong bữa ăn ngày đói: Tuy bữa ăn thật thảm hại nhưng tương phản với điều ấy là niềm vui của bà cụ Tứ. “Bà cụ vừa ăn, vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng sau này”. à Bà muốn gieo cho con niềm tin, hi vọng, sự lạc quan vào tương lai. Chính điều đó, khiến cho mọi thành viên trong gia đình gắn bó, hòa thuận, êm ắng.

-         Trong chi tiết “nồi chè khoán”, bà cụ Tứ cho ta thấy được:

+ Sự lo toan, tìm mọi cách để các con có được bữa ăn trong ngày đói.

+ Tình thương của người mẹ khi cố tình gọi “cháo cám” bằng cái tên mĩ miều: “chè khoán”.

+ Bà đang xua đi hiện thực khắc nghiệt, hải hục. Thắp lên ngọn lửa của niềm tin, niềm hi vọng bằng câu nói: “Khối người không có cháo cám để mà ăn”.

ð Bà cụ Tứ chỉ cho các con thấy toàn niềm vui, nụ cười, còn những giọt nước mắt bà giữ cho riêng mình (ba lần bà cụ Tứ khóc đều quay mặt đi). Bà cụ Tứ tiêu biểu cho hình tượng cho những người mẹ nghèo khổ nhưng có tấm lòng thương con vô bờ bến, luôn vun vén hạnh phúc cho con, trở thành chỗ dựa tinh thần cho các con vượt qua nạn đói. Bà là một minh chứng cho nhận xét của Kim Lân: “Khi đói, người ta không nghĩ đến con đường chết, mà chỉ nghĩ đến con đường sống”.


BÌNH LUẬN

Ảnh đại diện của bạn