Chẳng Tồn Tại Thứ Gọi Là Lười Biếng

Chẳng Tồn Tại Thứ Gọi Là Lười Biếng

5 - 12/01/2019

Tôi trở thành một giáo sư tâm lý học vào năm 2012. Sáu năm trôi qua, tôi đã chứng kiến học sinh ở mọi độ tuổi trì hoãn làm bài tập, trốn những buổi thuyết trình, trễ hạn nộp bài và xem hạn cuối như gió thoảng mây bay. Tôi đã thấy nhiều cử nhân đầy triển vọng không nộp hồ sơ đúng hạn; tôi đã chứng kiến cảnh các nghiên cứu sinh mất hàng tháng, hàng năm trời để xem đi xem lại MỘT bản nháp luận văn; một lần khác có một học sinh dự cùng một lớp của tôi hai kì liên tục, và chẳng nộp lại thứ gì trong cả hai kì đó.

Tôi không nghĩ lỗi nằm ở sự lười biếng.

Chưa bao giờ.

Nói thật, tôi không tin sự lười biếng tồn tại.

Tôi là một nhà tâm lí học xã hội nên tôi chủ yếu hướng vào những nguyên nhân mang tính tình huống và bối cảnh nào đã chi phối hành vi con người. Khi bạn tìm kiếm dữ liệu để dự đoán hay lí giải hành động của một người, sẽ dễ dàng hơn nếu bạn nhìn vào chuẩn mực xã hội, và bối cảnh của người đó. Sự ép buộc do tình huống thường dự đoán hành vi của một người tốt hơn nhiều so với tính cách, trí tuệ, hoặc những yếu tố mang tính cá nhân khác.

Khi một học sinh không làm xong bài tập, trễ deadline, hoặc chẳng hoàn thành việc gì ở những khía cạnh khác của cuộc đời, tôi sẽ chuyển sang đặt câu hỏi: những nguyên nhân mang tính hoàn cảnh nào đang giữ chân học sinh ấy lại? Đang thiếu đi điều quan trọng nào? Và khi nhắc đến trạng thái “lười biếng”, những bức tường nào đang ngăn những học sinh đó hành động mà tôi không thể thấy?

Luôn có những rào cản nào đó. Nhận thức – và xem chúng là những điều hơp lý – là bước đầu tiên để phá rập khuôn mang tên “lười biếng” này.

Phản hồi lại sự kém hiệu quả trong công việc của một người bằng sự tò mò sẽ tốt hơn đánh giá họ rất nhiều. Tôi học điều này từ một người bạn của tôi, một tác giả kiêm nhà hoạt động Kimberly Longhofer (bút danh Mik Everett). Kim dồn tâm huyết vào sự thừa nhận và chỗ ở của người khuyết tật và người vô gia cư. Những gì họ viết về 2 đối tượng này là một trong những thứ khai sáng nhất, đả phá thiên kiến nhất mà tôi từng đọc. Sự tuyệt vời của cuốn sách đến từ rất nhiều trích đoạn trong cuộc đời họ và một phần đến từ sự tuyệt vời của Kim, vì Kim cũng là một người khuyết tật và vô gia cư.

Kim là người đã dạy cho tôi rằng đánh giá một người vô gia cư chỉ vì họ muốn mua đồ uống có cồn hoặc vài điếu thuốc lá là một điều thật ngu xuẩn. Khi bạn không nhà không cửa, đêm thì lạnh cóng, thế giới thì lạnh nhạt, và mọi thứ thì khó chịu kinh khủng. Kể cả khi bạn ngủ dưới cầu, trong lều, hay ở trại vô gia cư, thư giãn chẳng hề dễ dàng. Khả năng lớn là những vết thương hay vấn đề mãn tính nào đó sẽ làm bạn khó chịu suốt, dù chỉ cần chữa trị một xíu thôi cũng đủ giải quyết chúng. Đồ ăn tốt cho sức khoẻ thì chẳng bao nhiêu.

Đặt mình trong hoàn cảnh đó mà xem, thèm một tí rượu hay vài điếu thuốc hợp lý vãi. Theo như lời giải thích của Kim, nếu bạn đang nằm co ro ở ngoài trời rét căm, uống tí đồ có cồn có lẽ là cách làm ấm duy nhất để đi vào giấc ngủ. Nếu bạn chẳng có gì bỏ bụng, vài làn khói có lẽ là thứ duy nhất dằn lại được cơn đói. Và nếu bạn phải giải quyết tất cả vấn đề trên đồng thời phải vật lộn với cơn nghiện, thì vâng, thi thoảng chỉ còn cách hoà hoãn với đống triệu chứng ấy để tồn tại.


Một số ít người chưa từng vô gia cư thì nghĩ theo hướng này. Họ muốn cảm thông với quyết định của người nghèo, có thể là để ủi an bản thân họ về một thế giới bất công. Còn phần đông nghĩ rằng đó là trách nhiệm của những người vô gia cư cho những khổ đau họ đang trải qua. Thì nghĩ thế chẳng dễ hơn việc suy xét đến nguyên nhân hoàn cảnh rõ.

Và khi bạn không hiểu được bức tranh toàn cảnh của một người, thật dễ để áp đặt những kì vọngtrừu tượng, cứng nhắc lên họ – nếu không trải qua một ngày trong vị trí của họ, với tất cả những sự khó chịu vặt vãnh và những cơn khủng hoảng tinh thần định nghĩa cuộc đời họ. Mấy người họ nên đặt chai rượu xuống và đi làm. Dù cho đa số có vấn đề về tâm lý và thể chất, và đang đấu tranh không ngừng để được nhìn nhận như một con người. Kệ xác việc họ không thể ngủ ngon giấc hay chẳng kiếm được một bữa tử tế đã nhiều tuần hoặc tháng. Kệ xác việc kể cả với một cuộc sống dễ dàng và thoải mái, tôi cũng không thể cưỡng lại việc thèm vài chén hay chi tiêu vô tội vạ. Họ phải làm tốt hơn thế.

Nhưng họ đã làm tốt nhất có thể. Tôi biết có những người vô gia cư làm việc toàn thời gian, và có những người cống hiến cuộc đời để chăm sóc những người đồng cảnh ngộ. Rất nhiều người vô gia cư lèo lái cả hệ thống không ngừng nghỉ, kết nối với nhân viên xã hội, cảnh sát, giám sát viên trại vô gia cư, nhân viên của chương trình trợ cấp tài chính y tế, và hàng đống quỹ từ thiện tốt xấu lẫn lộn. Ý nghĩa có mà thương hại cũng có. Có một núi việc để làm khi bạn vô gia cư. Đâu phải vô cớ khi một người vô gia cư hay nghèo khó chẳng còn sức lực và có “quyết định tồi” đâu.

Nếu bạn thấy hành vi của ai đó vô lý vãi, thì đó là do bạn đang thiếu đi phần nào bối cảnh của họ. Đơn giản vậy thôi. Tôi thật biết ơn Kim và những người đã làm tôi nhận thức được sự thật này. Không một lớp tâm lý ở bất kì cấp bậc nào từng dạy tôi điều này. Nhưng bây giờ với chiếc thấu kính trên tay, tôi soi vào tất cả các kiểu hành vi bị hiểu lầm như một dấu hiệu của sự suy đồi đạo đức – và tôi chưa từng thấy ca nào không thể lí giải và không thể đồng cảm cả.

Hãy cùng nhìn vào biểu tượng của sự lười học mà tôi tin rằng chẳng khác đi đâu được: sự trì hoãn.

Mọi người yêu việc đổ lỗi cho mấy người có tính trì hoãn. Trì hoãn công việc đương nhiên trông khá là biếng nhác dưới một con mắt thiếu kinh nghiệm. Những người chủ động trì hoãn cũng bị hiểu nhầm là lười biếng luôn. Bạn cần phải làm gì đó, và bạn chẳng làm gì – thất bại chứ còn gì nữa? Như thế tức là ý chí kém cỏi, thiếu động lực, và lười biếng, chẳng phải sao?

Trong hàng thập kỉ, những nghiên cứu tâm lý đã giải thích sự trì hoãn là một vấn đề liên quan đến chức năng hoạt động chứ không phải hệ quả của sự lười biếng. Khi một người không thể bắt đầu một dự án họ quan tâm, thường lí do bắt nguồn từ 
a) lo âu rằng sự cố gắng của họ “không đủ tốt” hoặc
b) không biết những bước đầu tiên cần làm là gì. 
Không phải tại lười. Thật ra, trì hoãn thường xuất hiện khi công việc đó có ý nghĩa và cá nhân đó coi trọng việc làm nó thật tốt.

Khi bạn đờ người ra vì nỗi sợ thất bại, hoặc thậm chí bạn còn không biết làm thế nào để bắt đầu một việc to lớn và khó nhằn, hoàn thành nó thật sự éo dễ. Ba cái thứ khát khao, động lực hay trách nhiệm cao cả chẳng liên quan qué gì. Những người trì hoãn có thể dự định làm việc hàng giờ liền; họ có thể ngồi trước một cái file word trắng trơn, không làm gì hết, và hành hạ chính họ; tội lỗi cứ thế chất chồng lên họ – chẳng có điều gì ở trên giúp cho việc bắt đầu dễ hơn cả. Thật ra, khát khao muốn làm cho xong mẹ đi có thể khiến họ thêm stress và việc bắt đầu làm càng khó hơn.

Nhìn vào thứ đang giữ chân những người trì hoãn là một giải pháp. Nếu sự lo âu là rào cản lớn nhất, những người trì hoãn thực sự cần rời khỏi máy tính/sách/Word và thư giãn. Bị dán nhãn “lười” bởi người khác thường dẫn tới đúng cái hành vi đối nghịch nó.

Thông thường, người trì hoãn hay gặp khó khăn ở việc triển khai – họ chật vật khi chia trách nhiệm lớn ra thành những nhiệm vụ riêng rẽ, cụ thể và trật tự. Đây là một ví dụ cho việc triển khai hoạt động ngoài đời thật: Tôi hoàn thành luận văn (từ proposal tới thu thập dữ liệu tới buổi bảo vệ cuối cùng) hơn một năm một chút. Tôi đã có thể viết luận văn khá là dễ và nhanh vì tôi biết rằng tôi phải 
a) biên soạn nghiên cứu về chủ đề, 
b) phác thảo ra giấy, 
c) lên lịch viết đều đặn, và 
d) từ từ hạ gục nó, từng đoạn một, ngày qua ngày, theo một lịch trình đã đặt ra.

Chưa ai dạy tôi cách phân nhỏ công việc ra như thế cả. Và chẳng ai ép tôi phải răm rắp theo lịch trình của tôi. Hoàn thành những mẩu việc như thế phù hợp với cách bộ não phân tích, siêu tập trung, tự kỉ bé nhỏ của tôi làm việc. Đa số chẳng có được sự thanh thản đó. Họ cần thế lực từ bên ngoài giữ cho họ tiếp tục viết – những buổi học nhóm với bạn bè chẳng hạn – và những deadline giao bởi ai đó. Khi đối mặt với một dự án vĩ đại, đa số muốn lời khuyên làm sao chia nhỏ công việc, và một mốc thời gian để hoàn thành. Để theo dõi tiến trình, phần lớn sẽ dùng đến những công cụ giúp ích cho việc sắp xếp, như là to-do-list, lịch, sổ ghi chép công việc, hoặc đề cương.

Việc cần hay tận dụng những thứ đó không biến một người trở thành lười biếng. Càng đón nhận điều ấy, chúng ta càng giúp mọi người phát triển hơn.

Tôi có một học sinh hay trốn học. Thi thoảng tôi sẽ thấy cô loanh quanh gần toà nhà, ngay trước lúc buổi học bắt đầu với vẻ mệt mỏi. Lớp sẽ bắt đầu, và cô ấy sẽ không có mặt. Khi cô ấy hiện diện, cô hơi thu mình, cô ngồi phía cuối phòng, mi mắt hạ, năng lượng thấp. Cô có đóng góp giữa những buổi làm việc nhóm nhỏ, nhưng không bao giờ nói chuyện trong những buổi thảo luận cả lớp.

Nhiều đồng nghiệp của tôi sẽ nhìn vào học sinh này và nghĩ cô ấy lười biếng, vô tổ chức hoặc lãnh cảm. Tôi biết vì tôi đã nghe cách họ nói về những học sinh kém. Sự tức giận hoặc bực bội thường lẫn trong tông giọng và từ ngữ – Tại sao học sinh này không nghiêm túc hơn với cái lớp của tôi? Tại sao chúng chẳng làm tôi cảm thấy chúng quan trọng, thú vị hay thông minh?

[…]

Bình luận

Ảnh đại diện của bạn