Văn hóa xứ Đoài- bài tập nhóm

Văn hóa xứ Đoài- bài tập nhóm

101 - 21/09/2018

XỨ ĐOÀI

Xứ Đoài là vùng trung châu, nằm ở phía tây Hà Nội, trải dài theo các dòng sông. Từ những buổi đầu lịch sử, xứ Đoài đã là đất bản bộ của người Việt, sau này lại là một trong bốn phiên trấn bảo vệ Thăng Long - Đông Đô. Xứ Đoài hiện đang lưu giữ nhiều giá trị văn hóa vật chất, tinh thần, được nhắc tới như một không gian văn hóa đặc trưng của đồng bằng châu thổ sông Hồng.

Tỉnh Thành: Hà Tây cũ nay là Hà Nội,  Vĩnh Phúc, Phú Thọ (Xứ đoài ngày nay bao gồm hầu như toàn bộ tỉnh Vĩnh Phú, Phú Thọ ,huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang và hơn một nửa tỉnh Hà Tây cũ nay là Hà Nội.)

Dân sốL  tớ chưa tìm kkk

Lịch sử: Xứ Đoài xưa là tên gọi khác của tỉnh Sơn Tây, 1 trong 13 tỉnh được thành lập sớm nhất ở Bắc Kỳ ( năm 1831) thời vua Minh Mạng. Đoài có nghĩa là phía Tây của thành Thăng Long ( Hà Nội) bao gồm diện tích, dân số của các tỉnh: Vĩnh Phúc, phía Bắc Phú Thọ, 1 phần Tuyên Quang và các huyện Tây Bắc ngoại thành Hà Nội ngày nay, tỉnh lị là Thị xã Sơn Tây ngày nay.

Điều kiện tự nhiên: khí hậu: cận nhiệt đới gió ẩm mùa, Xứ Đoài thuộc miền bắc của Việt Nam nên khí hâu phân hóa 4 mùa rõ rệt: Xuân , Hạ, Thu , Đông. Địa hình: đồi núi xen kẽ đồng bằng, các con sông lớn : sông đáy, sông Nhuệ và sông Tích ngoài ra còn rất nhiều con sông nhỏ khác

Xứ Đoài hiện đang lưu giữ nhiều giá trị văn hóa vật chất, tinh thần, được nhắc tới như một không gian văn hóa đặc trưng của đồng bằng châu thổ sông Hồng.

·        Văn hóa vật chất:

Di tích- danh lam thắng cảnh:

-chùa Thầy cũng chính là ngôi chùa cổ kính với bề dày lịch sử và cũng chính là một “đặc sản kiến trúc” của miền Bắc. Chùa Thầy được đánh giá rất cao bởi đây chính là một quần thể kiến trúc độc đáo. Phần chính của chùa Thầy gồm ba tòa song song với nhau gọi là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng. Giữa chùa Hạ và chùa Trung có ống muống nối với nhau, tạo thành thế hạ công thượng nhất.

Chùa Tây Phương là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo và đặc biệt có giá trị với những tác phẩm điêu khắc. Chùa Tây Phương gồm ba nếp nhà song song: bái đường, chính điện và hậu cung. Mỗi nếp có hai tầng mái kiểu chồng diêm, tường xây toàn bằng gạch Bát Tràng nung đỏ, để trần tạo thành một không khí rất thô sơ mộc mạc, điểm những của sổ tròn với biểu tượng sắc và không; các cột gỗ đều kê trên đá tảng xanh trong khắc hình cánh sen.

Nơi đây còn là nơi tập trung những kiệt tác hiếm có của nghệ thuật điêu khắc tôn giáo bao gồm chạm trổ, phù điêu và tạc tượng. Khắp chùa chỗ nào có gỗ là có chạm trổ.

Được xây dựng sau so với chùa Trăm Gian và chùa Thầy nhưng chùa Trầm cũng được đánh giá là một quần thể di tích rất độc đáo của xứ Đoài xưa và của Hà Nội ngày nay.

Đến chùa Trầm, du khách sẽ được chiêm ngưỡng một ngôi chùa mang đậm dấu ấn kiến trúc văn hóa tâm linh của đồng bằng Bắc Bộ. Một thế dựa vào núi, trước mặt lại nhìn ra hồ sen bát ngát, trên bao bọc bởi những tán cây rừng dày đặc… Chùa Trầm nhỏ nhưng lại mang vẻ đẹp cổ kính, thâm nghiêm.

Chùa Trầm càng trở nên có giá trị lịch sử lớn hơn khi đây chính là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến qua sóng Đài tiếng nói Việt Nam năm 1946.

-chùa Trăm Gian đặc biệt có giá trị rất lớn về mặt kiến trúc. Đây là một quần thể kiến trúc độc đáo. Theo cách tính cứ 4 góc cột là một "gian" thì chùa có cả thảy 104 gian, chia thành 3 cụm kiến trúc chính. 53 pho tượng, hầu hết bằng gỗ, một số ít bằng đất nung, đặc biệt quý là tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát.  Cụm thứ nhất gồm 4 cột trụ và 2 quán, trước đây là nơi đánh cờ người trong ngày hội, tiếp đó là nhà Giá Ngự nhìn ra mặt hồ sen, nơi đặt kiệu thánh để xem trò múa rối nước.

Đền Hùng là tên gọi khái quát của Khu di tích lịch sử Đền Hùng - quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với Giỗ Tổ Hùng Vương Trong khu di tích đền Hùng ,có 4 ngôi đền, 1 ngôi chùa, 1 lăng và một số hạng mục kiến trúc khác, được xây dựng hài hoà với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nơi khí thiêng của non sông hội tụ.



Trang phục: Xứ Đoài là nơi cư trú của nhiều dân tộc khác nhau nhưng đông nhất vẫn là dân tộc Kinh, Sán Dìu(địa bàn cư trú tập trung ở sườn phía Tây Nam dãy Tam Đảo, thuộc các huyện Lập Thạch, Tam Đảo, Tam Dương, Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên) và Mường( 2 huyện Quốc Oai và thạch THất)

Người Kinh: Thường sử dụng màu nâu. Khi đi làm: đàn ông với quần lá tọa, áo cánh màu nâu sồng; đàn bà chiếc váy thâm,áo nâu. Khi lễ hội, lễ tết thì trang phục khác hơn: đàn bà với áo dài tứ thân với ba màu áo: áo ngoài màu the thâm hay nâu non tiếp theo là lớp áo màu mỡ gà trong cùng là chiếc yếm màu cánh sen được cài khuy bên sườn, đầu đội nón lá duyên dáng; đàn ông với chiếc quần trắng, áo dài the, chít khăn đen.

Người Mường:  phụ nữ thường là áo màu trắng hay màu sáng ngắn chấm đến eo để chỗ cho chiếc cạp váy chiếm vị trí quan trọng trong trang phục, họ sử dụng Yếm như người kinh làm áo lót trong thường có màu trắng ,đỏ và tím. Váy của phụ nữ Mường thường dùng vải thâm hay nhuộm chàm đen hình ống dài từ ngực xuống chấm mắt cá, quanh gấu váy thắt nút nhuộm. Nổi bật nhất của chiếc váy là cái cạp váy đã trở thành một sản phẩm nghệ thuật đặc sắc nhất của người Mường. Khăn đội đầu thường là màu trắng

 

Nam giới thường mặc áo ngắn hoặc áo dài, màu chàm, cài khuy, quần dài, rộng, thắt lưng quấn quanh cạp, đầu búi, quấn khăn dài, đầu khăn giắt sang hai bên, sau này cũng có dùng khăn xếp quấn như của người Kinh dưới xuôi.

Tôn giáo -Tín Ngưỡng:

-TÔN GIÁO:

người Xứ Đoài xưa biết tôn trọng nguyên lý Tam giáo đồng nguyên (Phật, Lão, Nho cùng hòa hợp) đã hình thành từ thời Lý Trần. Ở tổng Phùng xưa đã từng có ngôi chùa thờ một lúc cả Đức Phật Thích Ca, Đức Thái Thượng Lão quân cùng với Đức Khổng Tử., nhưng bên cạnh đó, người dân vẫn thờ Phật và cả thờ Thánh, nhất là tục thờ Thánh Mẫu. Nhiều đền chùa ở Xứ Đoài cấu trúc theo mô hình khép kín: Tiền Phật, hậu Thánh. Các vị anh hùng dân tộc có công với nước và cả các vị tổ nghề giúp dân dựng nên các nghề thủ công, nghề phụ ngoài nông nghiệp… nhiều khi cũng được tôn vinh làm Thành hoàng và cũng được tôn thờ trọng thể trong đình đền, miếu mạo. Phật giáo: Xứ Đoài là một vùng đất mang đậm dấu ấn Phật giáo, với hàng trăm ngôi chùa lớn, nhỏ.

 

Chùa Thiên Trù (Chùa Hương) - Hương Sơn (Hà Tây)

Chùa Hương là cách nói trong dân gian, trên thực tế chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp.

 

Trung tâm chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, cách Hà Nội khoảng 60 km, nằm ven bờ phải sông Đáy. Trung tâm của cụm đền chùa tại vùng này chính là chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong.

 

Ở chùa có tấm bia cổ dựng vào năm 1686, nói việc nhà sư Viên Quang có công

 sửa sang động báu Hương Tích và xây dựng ngôi chùa Ngoài. Có 2 ngọn tháp đáng chú ý là tháp Thiên Thuỷ - một khối đã nước mưa bào mòn và tháp Viên Công xây bằng gạch cổ.

 

Chùa Hương là một danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Việt Nam. Động Hương Tích được gọi là 'Nam Thiên Đệ Nhất Động'.

 

.”

 

·        Cả Xứ Đoài như muốn ôm lấy những truyền thuyết, những chiến công, những vị Thánh dựng nước và chống giặc ngoại xâm, và cạnh đó là những người phụ nữ có công xây dựng làng, mở mang nghề như Bà Chúa Ca Trù

·         

·        (Cung phi Nguyễn Thị Sang) làng Nhà Trò Đạo Phú; Bà Chúa Mía ở Đường Lâm…

-Đền Và: thờ Đức Thánh Tản Viên

- Đền Lăng Sương : nơi thờ Mẫu Đinh Thị Đen ( người có công sinh thành ra Thánh)

-Đền Trung (Trung Cung) nơi thờ bà Man Thị Cao Sơn - mẹ nuôi của Đức Thánh.

Lâm)

-Đình Phú Nhi: thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Trong đời sống tâm linh người Xứ Đoài, luôn luôn việc thờ cúng tổ tiên được coi trọng mỗi gia đình trong nhà luôn có bàn thờ để thờ cúng tổ tiên ,cũng là biểu hiện của lòng hiếu thảo, nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của tiền nhân, nhớ đến cội nguồn của mình.

·        Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương:

-Tín ngưỡng thờ cúng Hùng vương ở Phú Thọ là lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, được thực hiện vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch hằng năm tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng (quần thể di tích gồm Đền thượng, Đền Trung, Đền Hạ, Đền Mẫu Âu Cơ, Lăng mộ …) trên núi Nghĩa Lĩnh, thành phố Việt Trì,

-Vào dịp Giỗ Tổ, nhân dân trong các làng xã có thờ cúng Hùng Vương ở khu vực Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, trong trang phục lễ hội, rực rỡ mầu cờ, sắc áo,  tổ chức thi kiệu, thi làm lễ vật. Họ chọn ra chiếc kiệu đẹp nhất và lễ vật ngon nhất, cùng chiêng, trống đồng, nghi trượng... rước lên đền Hùng dâng cúng, cầu cho quốc thái dân an, vạn vật sinh sôi.

-Thanh niên trai tráng tham gia rước kiệu, cầm cờ, quạt, lọng trong đoàn rước đến nơi thờ cúng. Các hình thức nghệ thuật trình diễn dân gian như hát xoan, hát ghẹo,… cùng các trò chơi dân gian khác thu hút không chỉ dân làng mà cả khách thập phương cùng tham gia.

Vào ngày 12 tháng 6 năm 2012 Tín Ngưỡng thờ cúng Hùng Vươngđược UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

 

Nhân vật lịch sử- anh hùng dân tộc: Xứ Đoài là vùng nhân kiệt, quê hương của nhiều vị anh hùng dân tộc kiệt xuất, như: Hai Bà Trưng, Lý Bí, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Đốc Ngữ... Xứ Đoài cũng là quê hương của nhiều danh nhân trí thức thuộc vào hàng "nguyên khí quốc gia", như: Nguyễn Trực, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Bá Lân, Phan Huy Ích, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu v.v..

Văn hóa nghệ thuật Xứ Đoài:

        Thơ ca Xứ Đoài:…… ( đang bí chữ)

·        Hát Dô : Hát Dô là một loại hình diễn xướng dân gian đặc sắc, phát tích ở vùng đất Lạp Hạ ven sông Tích, nay là xã Liệp Tuyết (Quốc Oai, Hà Nội) gắn với lễ hội đền Khánh Xuân (còn gọi là hội hát Dô), nơi thờ phụng Đức Thánh Tản Viên. Tương truyền, Đức Thánh Tản ngao du qua nhiều vùng ven sông Tích, từ Sơn Tây, qua Thạch Thất và về đến mảnh đất Lạp Hạ - xã Liệp Tuyết (Quốc Oai) ngày nay, Ngài thấy ruộng đất phì nhiêu nhưng dân cư thưa thớt, chưa biết làm nông nghiệp, bèn gọi dân làng đến dạy cho cấy cày. Đức Thánh Tản xuống ruộng làm trước, mọi người làm theo sau rồi ngài đi nơi khác.

·        Hát Xoan

-Hát xoan là loại hình dân ca lễ nghi phong tục hát thờ thần, thành hoàng với hình thức nghệ thuật đa yếu tố: có nhạc, hát, múa, gõ trống và phách thường được biểu diễn vào dịp đầu xuân, phổ biến ở vùng đất tổ Hùng Vương - Phú Thọ, một tỉnh thuộc vùng trung du Việt Nam

-Hát Xoan là di sản thuộc loại hình nghệ thuật trình diễn

-Hát Xoan của tỉnh Phú Thọ bao gồm hát, múa, gõ trống và phách. Hát Xoan gắn liền với việc thờ cúng Hùng Vương, một tín ngưỡng bắt nguồn từ việc thực hành thờ cúng tổ tiên của người Việt.

-Hát xoan là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được công nhận ngày 24/11/2011.

·        Chiếu Chèo

-Làng quê Thạch Thất thuộc vùng xứ Đoài nổi tiếng với nhiều chiếu chèo cổ. Chèo xứ Đoài từ lâu nổi tiếng nhờ sự dung dị rất đặc trưng của người dân lao động vùng văn hóa sông Hồng.

-Các tích chèo cổ như: "Thị Mầu lên chùa", "Xã trưởng, mẹ Đốp, Xúy Vân giả dại, Từ Thức gặp tiên, Lưu Bình - Dương Lễ, Xã trưởng - mẹ Đốp, Thầy đồ dạy con... đến các vở chèo mới do người làng tự biên, tự diễn như: Tiễn anh lên đường, Tiếng hát đồng quê, Tình trước nghĩa sau… đều được đánh giá cao khiến không chỉ người già say sưa  mà còn hấp dẫn cả thanh, thiếu niên  "...

LỄ HỘI: Xứ Đoài là một vùng đất cổ có bề dày lịch sử hàng ngàn năm. Nơi đây các nhân vật là anh hùng huyền thoại, anh hùng lịch sử hoặc danh nhân văn hóa được tôn thờ như thần Thành hoàng ở các làng xã khá nhiều. Do vậy, xứ Đoài cũng là miền quê của rất nhiều lễ hội văn hóa cổ truyền. Hầu như làng nào cũng có hội, có những lễ hội tâm linh như: Hội làng Miêng Hạ, hội tổng Hà Hồi, hội làng Đa Sỹ, hội làng Khê Hồi... Lại có những lễ hội để vinh danh một đặc sản, một nghề nghiệp, một nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng, như: Hội chợ làng Chuông, hội đánh cá làng Me, hội vật làng Yên Nội, hội thổi cơm làng chuông, hội thả diều Bá Giang v.v.. Nhiều nhất vẫn là lễ hội ở các đình, đền, chùa, miếu... Có những lễ hội kéo dài mấy tháng như hội chùa Hương. Có những lễ hội diễn ra trên một địa bàn rộng, gọi là lễ hội "vùng" như: Lễ hội Tản Viên, lễ hội chùa Thầy... Dẫu là lễ hội "vùng" hay lễ hội làng thì đa số lễ hội ở xứ Đoài đều khá nổi tiếng trong lịch sử, tiếng tăm vượt ra khỏi địa giới làng xã, như: Hội đền Và, hội đền Hát, hội chùa Ngo, hội chùa Tây Phương, hội chùa Thầy v.v..

Lễ hội, hội làng xứ Đoài nhìn chung đều là những hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng bổ ích, hứng thú; vừa thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn; vừa có tác dụng gắn bó mọi người với quê hương, xóm làng, đất nước, tổ tiên, dân tộc, giống nòi... Từ đời này qua đời khác, sinh hoạt lễ hội đã trở thành một nhu cầu văn hóa không thể thiếu của nhân dân, nhất là những cư dân lao động quanh năm vất vả, càng mong đến kỳ lễ hội để được “nghỉ ngơi” và hưởng thụ đời sống tinh thần. Đến với lễ hội và thông qua lễ hội, người dân thể hiện cách ứng xử văn hóa với thiên nhiên, xã hội và cộng đồng, với thần thánh và con người; biểu hiện quan niệm và khát vọng vươn tới các giá trị Chân, Thiện, Mỹ.

HỘI LÀNG: Hội làng Miêng Hạ, hội tổng Hà Hồi, hội làng Đa Sỹ, hội làng Khê Hồi...

Hội Làng Đa Sĩ: Hội Đa Sĩ

 

Cứ ba năm lại mở hội một lần, diễn ra từ ngày 12-15 tháng Giêng Âm lịch tại làng Đa Sỹ, xã Kiến Hưng, thị xã Hà Đông (Hà Tây) để tưởng nhớ danh y Hoàng Đôn Hòa và vợ (đời Lê - thế kỷ XVI). Sáng 12, sau lễ, tế và dâng hương có rước kiệu Ông và kiệu Bà từ miếu ra đình, sư tử múa mở đường. Quãng đường dài chỉ độ 500m mà rước từ sáng tới quá trưa mới tới nơi. Lúc bắt đầu, kiệu Ông đi trước, ra khỏi cửa miếu, kiệu Ông dừng lại nhường đường cho kiệu Bà. Kiệu Ông có hiệu cờ, hiệu trống chỉ huy và do con trai khiêng. Kiệu Bà do con gái khiêng và có hiệu chiêng, hiệu cờ. Ngày 15 kiệu lại được rước từ đình về miếu. Trò vui trong hội: múa rồng, hát ca trù, diễn tuồng, chèo.

Hội thổi cơm thi làng Chuông: Trong rất nhiều lễ hội ở làng Chuông, Thanh Oai, Hà Tây thì hội thổi cơm thi vẫn còn giữ nguyên những nét đẹp truyền thống của làng. Hội được tổ chức mỗi năm một lần, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch tại sân đình của làng. Thí sinh dự thi phải là những cô gái chưa chồng, trong trang phục áo tứ thân, nón quai thao.

 

Lễ hội Chùa Hương

Lễ hội Chùa Hương diễn ra từ mùng 6 tháng giêng đến hết tháng 3 âm lịch. Đây là lễ hội đầu năm lớn nhất của thủ đô Hà Nội cũng là lễ hội lớn nhất trong năm của Việt Nam. Lễ hội chính thức diễn ra từ rằm tháng giêng đến hết 18 tháng 2 âm lịch với rất nhiều hoạt động vui chơi vô cùng hấp dẫn.

 

Lễ hội Chùa Hương diễn ra vào dịp xuân đầu năm nên số lượng Phật tử đổ về nơi đây dự lễ rất đông. Du lịch Chùa Hương dịp lễ hội, du khách sẽ có dịp được tham gia, hòa mình vào không khí tưng bừng nhộn nhịp của những hoạt động văn hóa hấp dẫn và lôi cuốn cùng với người dân địa phương.

 

 

Phong cảnh khu du lịch chùa Hương làm xao lòng khách du lịch

 

Ttháng 7 – tháng 10

Ngoài dịp lễ hội Chùa Hương thì thời điểm du lịch Chùa Hương lý tưởng nhất chính là vào đầu mùa hạ và mùa thu (khoảng tháng 7 – tháng 10).

 

Khung cảnh chùa Hương vào thời gian này không còn cảnh người người lũ lượt kéo nhau đi lễ chùa đầu năm mà thay vào đó là khung cảnh thiên nhiên hữu tình thơ mộng, không gian yên tĩnh và linh thiêng của chốn tu hành. Khung cảnh đẹp tuyệt trần chốn phật tử thanh tịnh biến chùa Hương trở thành một địa điểm du lịch đẹp ở Hà Nội rất hút khách du lịch.

 

Tháng 8 – tháng 10 là thời điểm đẹp để du khách khám phá hết vẻ đẹp tuyệt vời của chùa Hương. Đây cũng là lúc hoa súng, hoa lau đua nhau khoe sắc bên dòng sông Yến hiền hòa. Một khung cảnh rất tuyệt vời để du khách vãng cảnh, viếng thăm chùa và chụp ảnh làm kỉ niệm.

Lễ Hội Chùa Thầy: Diễn ra từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 3 âm lịch hàng năm, ngày 7 tháng 3 âm lịch là chính hội. Hội mở đầu bằng lễ cúng Phật và chạy đàn - một diễn xướng có tính chất tôn giáo với sự phối hợp của các nhạc cụ dân tộc, trang nghiêm. Quần chúng bị cuốn hút theo nhịp hát kinh của các nhà sư.

 

 

 

Trong các ngày diễn ra lễ hội còn có nhiều trò chơi, đặc biêt là khách được xem nghệ thuật múa rối nước Việt Nam đặc sắc mà sân khấu biểu diễn ở ngay trước Thủy Ðình. Có nhiều tích trò rối như Thạch Sanh, Tấm Cám hay các cảnh sinh hoạt dân dã như đi cày, chăn vịt, đấu vật.

 

 

 

Bình luận

Ảnh đại diện của bạn