Vai trò và đóng góp của Quốc sử quán đối với lịch sử dân tộc

Vai trò và đóng góp của Quốc sử quán đối với lịch sử dân tộc

130 29/03/2019

Quốc sử quán Việt Nam là dùng từ để chỉ chung các cơ quan viết sử của Việt Nam qua từng thời kì khác nhau. Quốc sử quán là cơ quan chuyên môn thuộc bộ máy trung ương, do chính triều đình nắm. Tuy lịch sử Việt Nam có gần 4000 năm hình thành và phát triển, nhưng lịch sử quốc sử quán tính từ thời Trần cho tới nay chỉ mới gần 1000 năm. Việc quốc sử quán ra đời trễ là do nhiều yếu tố điều kiện, khác nhau.

Việc vì sao đến tận thời Trần ở thế kỉ XIII, mới xuất hiện quốc sử quán thì còn nhiều tranh cãi và chưa hẳn một câu trả lời nào. Nhưng nếu chúng ta xét về bối cảnh lịch sử, thì Việt Nam mở nước vào thế kỉ VII TCN cho đến tận trước thời bắc thuộc thì còn trong thời kì “mong muội”, bộ máy nhà nước còn sơ khai, các cơ quan chuyên trách chưa được thành lập, thì quốc sử quán cũng chưa ra đời. Rồi sau đó, nước ta rơi vào thời kì hơn ngàn năm bắc thuộc và chống bắc thuộc, rồi đến thời kì buổi đầu độc lập tự do hơn 13 thế kỉ sau công nguyên. Vì sau hơn nghìn năm đô hộ của phương bắc, việc khôi phục lại nền văn hóa dân tộc là một yêu cầu cấp thiết và quan trọng đối với chính quyền trung ương cùng với đó là xây dựng đất nước về mọi mặt. Bước sang thời Trần ở thế kỉ XIII, đất nước Đại Việt về cơ bản đã hoàn chỉnh được chính trị, kinh tế - xã hội ổn định. Đồng thời, cuộc xâm lăng của Mông – Nguyên, một thế lực hùng mạnh ở nội Mông, với cuộc xâm lăng từ Á sang Âu, chiếm giữ nhiều quốc gia độc lập. Nhà Tống, một quốc gia chính thống của người Hán ở Trung Quốc cũng bị thôn tính bởi thế lực này. Mặc dầu còn rất nhiều sự tranh cãi về lí do ra đời của quốc sử quán thời Trần nói riêng và nền sử học Việt Nam nói chung ở thời Trần, nhưng “nền sử học Trần ra đời đã có sự tác động bởi nhu cầu tìm hiểu những bài học về phép trị nước của một vương triều đang phát triển mạnh mẽ với xu hướng tập quyền, bởi Nho giáo, nền tảng tư tưởng của chế độ phong kiến đang lấn át Phật giáo và bởi tinh thần tự tôn dân tộc được dâng cao”[1]. Và quốc sử quán phải ra đời trước năm 1272, vì khi Lê Văn Hưu trình vua Trần cuốn quốc sử đầu tiên thì ông đương là Quốc sử viện giản tu, nên cơ quan này phải có từ trước đó vài thập kỷ.

Trước khi Quốc sử viện hay quốc sử quán ra đời, những tác phẩm có tính chất sử học chỉ lưu truyền trong dân gian, triều đình không nắm chính. Những tác phẩm đó là một “phương tiện” để tạo cho con người về những gì đã qua và có ý nghĩa lớn lao như cội nguồn của dòng giống tổ tiên, công huấn của các đấng khai thiên lập địa, những biến cố lớn từng xảy ra… được thực hiện chủ yếu thông qua quá trình sáng tạo ra áng văn chương truyền khẩu tuyệt vời như thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, áng sử thi cũng được sử dụng trong dân gian. Từ thế kỉ X, tuy quá trình này vẫn còn phát triển rất mạnh mẽ, nhưng cũng xuất hiện việc biên soạn sử sách. Những trang sử đầu tiên chính là những dòng chữ được khắc trên các hiện vật như chuông, khánh, trụ dá, bia, kệ và còn nhiều hiện vật khác[2]. Tuy đây chưa là một công trình sử học thực chất, nhưng đây là sử liệu đóng vai trò quan trọng trong các cuốn quốc sử sau này. Vì nếu so với tài liệu truyền khẩu thì tài liệu khắc in như vậy sẽ tránh được “tam sao thất bổn”. Đến cuối thời Lý, đầu thời Trần, văn hóa phát triển mạnh mẽ và cùng với các yếu tố khác mà quốc sử viện thời Trần ra đời, nhằm làm hoàn thiện hơn nền văn hóa Đại Việt.

Quốc sử quán Việt Nam ra đời từ Trần mãi cho đến thời Nguyễn sau này, đã có gần 800 năm hình và phát triển. Trong khoảng thời gian đó, quốc sử quán có những tên gọi khác nhau. Từ thời Trần trải đến thời Hậu Lê gọi là Quốc sử viện đứng đầu là Tu soạn, đến thời Nguyễn gọi là quốc sử quán đứng là Giám Tu. Bên những chức vụ đứng đầu, thì theo từng triều đại sẽ có chức quan hỗ trợ khác. Nhìn chung, cho dù mang tên gì, thời kì nào, nhưng nhiệm vụ của quốc sử quán luôn là chuyên trách việc nghiên cứu, lưu trữ sử liệu, biên soạn các bộ sử chính thống của triều đình. Hay đơn thuần là nhà vua nói gì, làm gì, sử quan đều phải ghi chép cẩn thận và trung thực. Nhưng tính trung thực của sử gia còn bị chi phối bởi tư tưởng văn hóa và triều đình sở tại.

Nhìn chung, chúng ta thấy rằng, các sử quan tuy bị lệ thuộc về vua, vào tư tưởng trung quân nhưng khi viết sử, họ cũng đã có những tư tưởng riêng, độc lập, tức là ý chủ quan. Các quan điểm viết sử của các vua triều Nguyễn nói riêng, các triều đại nói chung cũng cho thấy rằng, họ cũng đã đề cao nền sử học nước nhà, đề cao vai trò của quốc sử, nhưng quan điểm đề cao triều đại mình, đánh giá sai các vai trò của các triều đại trước, đề cao tính chính thống của triều đại này mà miệt thị các triều đại soán vị, và dường như không có quan điểm làm sáng tỏ đời sống của các dân tộc trong quá khứ. Chính những quan điểm như trên, quốc sử quán – một cơ quan viết sử đã ra đời. Quốc sử quán ra đời như một nhiệm vụ tổng kết quá trình phát triển của dân tộc từ ngày xưa, để rồi ra một bộ quốc sử và đời sau sử dụng nó mà chỉnh lí, bổ sung cho hoàn chỉnh.

Quốc sử quán từ thời Trần đến thời Nguyễn có gần 800 năm hình thành và phát triển, dã có vai trò quan trọng và đóng góp to lớn đối với lịch sử dân tộc. Quốc sử quán trước hết dã đóng góp cho lịch sử dân tộc khi đã biên soạn thành công các bộ sử. Tuy xuất hiện muộn, nhưng các tác phẩm sử học thời Trần lại có hầu hết những thể loại của sử học phong kiến. Theo trình tự thời gian xuất hiện, có thể thống kê tác phẩm như sau: Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu; Trung hưng thực lục, viết năm 1289; An Nam chí lược của Lê Tắc, hoàn thành năm 1333; Đại Việt sử lược, viết trong đời vua Trần Phế Đế (1377 – 1388); Việt sử cương mục, Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc, viết cuối thời Trần. Và xuất hiện sớm nhất, nhưng lại đóng vai trò quan trọng nhất cho việc hình thành một nền sử học là tác phẩm Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu[3].Bước sang thời Lê Sơ, bộ máy hành chính thay đổi nhưng cơ quan chuyên môn không thay đổi gì, cơ quan viết sử vẫn là quốc sử viện. Ở thời này, đã lần lượt ra đời Đại Việt sử ký của Phan Phu Tiên đầu thời Lê Sơ, viết về thời Trần Thái Tông đến khi quân Minh đô hộ phải rút về nước. Chúng ta có thể nói rằng, 10 quyển này là viết tiếp cuốn của Lê Văn Hưu thời Trần. Và đây chính là hai tài liệu quan trọng cùng với phần viết thêm ở Kỉ Hồng Bàng thành ra bộ Đại Việt sử ký toàn thư của sử gia Ngô Sĩ Liên và các sử gia thời Lê Sơ với các sử gia thời Trung Hưng. Chính vì đó điều đó, chúng ta thấy rằng, công trình sử học đương trên đà phát triển mạnh mẽ từ khi quốc sử quán ra đời. Thời Nguyễn, Khâm dịnh Việt sử cương mục cũng được xem là bộ quốc sử của nước ta, khi sách sử bàn từ thời khởi thủy dến hết thời Hậu Lê. Bên cạnh những công trình lịch sử đồ sộ, thì còn có những bộ sử còn có những tính chất quan trọng. Hiện nay, do trải qua điều kiện chiến tranh, điều kiện thời gian cho nên chúng ta chỉ có lưu giữ lại những công trình sử học của nhà Nguyễn. Công trình mang tính chất sử học như là Cương mục, hội điền, thực lục (Đại Nam thực lục),… của nhà Nguyễn rất là đồ sộ và phong phú. Những sử liệu gốc đóng góp cho các nhà nghiên cứu hiện nay. Để có những sử liệu gốc đó thì không thể không nói đến quốc sử viện hay quốc sử quán. Đây là cơ quan biên soạn, sưu tầm, chỉnh lí và lưu trữ lâu dài.

Thông qua những công trình sử học suốt thời Trần đến tận thời Nguyễn, nhất là thời Nguyễn (vì điều kiện thời gian nên những công trình của đời trước khó thể xem xét và những sử liệu của đời trước cũng đã được ghép vào các bộ sách của các học giả đời sau), chúng ta thấy rằng vai trò và đóng góp của cơ quan này cho lịch sử dân tộc là rất to lớn.

Thứ nhất, làm nên sự thật lịch sử. Cơ quan này là do triều đình lập ra, với nhiệm vụ “theo sát mọi hoạt động của hoàng đế, hoàng tộc, triều đình ghi đầy đủ và trung thực vào nhật lịch (như nhật ký). Đó là sự thật. “Ghi chép” lại những gì vua phán, vua làm,… Chính vì vậy, cơ quan quốc sử quán đóng góp vào làm rõ sự thật lịch sử thông qua các công trình.

Thứ hai, sưu tầm, chỉnh lí và khắc in rất nhiều thư tịch cổ. Điều này góp phần trong việc biên soạn quốc sử của triều đình. Đa số các triều đại điều cần thiết làm việc này. “Tất cả các tài liệu quý, nhất là tài liệu không còn nguyên vẹn hay đã qua nhiều lần chép tay, nên bị “tam sao thất bản” đều được các bậc đại khoa Nho học cẩn trọng xác minh và chỉnh lý một cách nghiêm túc, độ tin cậy vì thế mà được nâng cao. Nhìn chung các bản khắc in do nhà Nguyễn thực hiện đều rất đẹp, chữ viết chân phượng và rõ ràng. Đội ngũ những người viết chữ và thợ khắc in được tuyển chọn rất kĩ lưỡng. Giấu được dùng để in sách cũng là những loại giấy tốt nhất lúc bấy giờ”[4]. Như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của triều Hậu Lê, một quyển sách được sử dụng phổ biến. Điều này có thể thấy rõ các tài liệu thời Nguyễn hiện vẫn còn bảo tồn tốt.

Thứ ba tổ chức biên soạn nhiều công trình có giá trị sử học hay có sự kết hợp giữa các lĩnh vực. Công việc biên soạn những công trình này rất đa dạng, chúng ta có thể rõ ở thời Nguyễn. Nó được chia thành ba nhóm công việc như sau: biên soạn quốc sử; biên soạn các công trình về địa lí và địa lí học lịch sử; biên soạn soạn công trình giới thiệu tóm tắt lí lich cuộc đời và sự nghiệp các nhân vật lịch sử thời Nguyễn. Một số công trình tiêu biểu: Việt Sử Thông giám cương mục (52 quyển), viết lại và viết tiếp Đại Việt Sử Kí toàn thư; Đại Nam Thực lục (453 quyển), chia thành hai phần: phần thứ nhất là Tiền biên giới thiệu các sự kiện và vấn đề theo tuần tự thời gian diễn ra dưới thời trị vì của các chúa Nguyễn, phần thứ hai là Chính biên giới thiệu các sự kiện và vấn đề diễn ra theo tuần tự thời gian nhưng trong thời các Hoàng đế triều Nguyễn. Đại Nam Nhất Thống chí; Đại Nam Nhất thống toàn đồ, Đại Nam Liệt truyện (87 quyển).

Như vậy, trong quá trình hình thành và phát triển của quốc sử viện hay quốc sử quán thời phong kiến đã đóng góp to lớn những công trình mang giá trị cao trong nền văn hóa nói riêng, trong phát triển đất nước nói chung. Các công trình có giá trị cao, hoàn thiện và góp phần hoàn thiện đất nước trong mọi thời đại. Hiện nay, chúng ta xem lại cách viết sử của người đời xưa, nhằm gây dựng hình ảnh ngày xưa, rút ra những bài học lịch sử để đóng góp nền tri thức nước nhà. Đóng góp của cơ quan quốc sử quán cho dân tộc rất to lớn. Dựa trên những sử liệu, các nhà nghiên cứu, học giả sẽ đánh giá vấn đề đó mang tính khách quan, để có được cái gọi là “sự thật lịch sử”.



[2] Nguyễn Khắc Thuần. (2007), Tiến trình Văn hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỉ XIX, NXB. GIáo dục, Hà Nội, tr.461-462.

[3] Sử gia Lê Văn Hưu: Người khai dựng quốc sử, http://daidoanket.vn/tinh-hoa-viet/su-gia-le-van-huu-nguoi-khai-dung-quoc-su-tintuc381425.

[4] Nguyễn Khắc Thuần. (2007), Tiến trình Văn hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỉ XIX, NXB. GIáo dục, Hà Nội,  tr.1009.

BÌNH LUẬN

Ảnh đại diện của bạn

GIÁO VIÊN

Trần Hoàng

Giảng viên tiếng anh

I have detailed below the most cost effective forms of internet marketing to advertising your business using your company website.